Sáng 12/4, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).
Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch
Đại biểu Tạ Văn Hạ (Đoàn thành phố Đà Nẵng) bày tỏ sự nhất trí cao với việc sửa đổi Luật Thủ đô nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng.
Theo đại biểu, Hà Nội là trung tâm chính trị hành chính quốc gia và là trái tim của cả nước. Việc sửa đổi, ban hành Luật Thủ đô (sửa đổi) lần này là Quốc hội đã trao cho Thủ đô Hà Nội, Thăng Long Hà Nội một sứ mệnh, một cơ hội lịch sử để Hà Nội hiện thực hóa những khát vọng phát triển, vươn mình và bay cao trong kỷ nguyên mới.
Đi vào các nội dung cụ thể, đại biểu bày tỏ ủng hộ các nhóm chính sách trong dự thảo của luật, đặc biệt các vấn đề quy định về phân quyền và phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền thành phố Hà Nội, trong đó có nhiều thẩm quyền mới, kể cả những thẩm quyền xây dựng, ban hành pháp luật, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thí điểm cơ chế chính sách đặc thù.
Theo thống kê, dự thảo Luật trao cho Hà Nội 192 quyền, trong đó có 85 thẩm quyền mới, chưa có trong quy định của pháp luật hiện hành. Theo đại biểu đây là bước đột phá mạnh mẽ, tuy nhiên đi đôi với phân quyền mạnh thì phải kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị cần đánh giá đầy đủ năng lực thực thi bộ máy cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ tham mưu, xây dựng chính sách pháp luật đòi hỏi đội ngũ này phải có kinh nghiệm, trình độ và có tư duy tương xứng, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bên cạnh đó, phải thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.
“Cần làm rõ cơ chế đánh giá, tổng kết thí điểm bảo đảm các chính sách được triển khai có kiểm soát, có sơ kết, có tổng kết, kịp thời hoàn thiện và nhân rộng mô hình cho phù hợp”, đại biểu kiến nghị.
Đại biểu Nguyễn Hải Nam (Đoàn thành phố Huế) cũng cho rằng, với mỗi cơ chế vượt trội, có tăng cường phân quyền cho chính quyền Thủ đô cần phải kèm với cơ chế kiểm soát tương xứng để tránh những rủi ro tiềm ẩn, nhất là trong 3 lĩnh vực sau: quy hoạch, đất đai và đầu tư.
Cũng theo đại biểu, không nên đưa vào luật những quy trình, thủ tục cụ thể làm giảm tính ổn định của luật trong dài hạn để bảo đảm Luật Thủ đô có tính ổn định cao và thời hạn dài.
“Khi trao quyền cho Hà Nội về thẩm quyền đặt trong mối quan hệ cải cách tổ chức bộ máy thì cần có điều chỉnh tương ứng, không phát sinh chồng chéo, thậm chí làm giảm hiệu lực, hiệu quả”, đại biểu lưu ý.
Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai) đặt vấn đề khi quyền lực được trao đi rất mạnh thì thiết chế thực hiện quyền lực đó phải được nâng cấp, phải thực sự xứng đáng.
Theo đại biểu, nếu vẫn giữ nguyên mô hình tổ chức, nhân sự, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân như một hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông thường, trong khi lại trao cho Hội đồng nhân dân Thủ đô một khối lượng công việc như của một cơ quan lập pháp đô thị thì rất khó bảo đảm được chất lượng quyết nghị, thẩm định và giám sát, đặc biệt là việc kiểm soát quyền lực. Ở đây, Hội đồng nhân dân thành phố đang được trao vai trò là nhà kiến tạo thể chế cho chính quyền đô thị khi được ban hành nghị quyết thí điểm chính sách mới.
Nhấn mạnh đây là quyền rất lớn nhưng cũng đặt ra sức ép cho quá trình tổ chức thực hiện, đại biểu cho rằng muốn thực hiện tốt được quyền lực đó, cần phải đồng thời thiết kế ngay trong luật, trong các văn bản triển khai rất nhiều các nhóm nội dung như: Nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách; có bộ máy đầy đủ trong đó tăng mạnh năng lực của bộ máy tham mưu, giúp việc và phản biện chính sách cho Hội đồng nhân dân thành phố.
“Để thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ hơn, cần phải có những cơ chế để cho Hội đồng nhân dân thành phố chủ động trong việc kiểm soát, giám sát và thực hiện chức năng kiểm soát của mình”, đại biểu kiến nghị.
Bổ sung rõ hơn cơ chế chính sách phát triển hệ thống trường công lập
Quan tâm đến quy định về phát triển giáo dục và đào tạo quy định tại Điều 16 của dự thảo Luật, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) cho hay, nhận thấy các quy định tại điều này chưa có những chính sách rõ ràng về phát triển hệ thống trường công lập, chưa xác định cơ chế đủ rõ để phát triển mạng lưới trường trung học phổ thông công lập theo tốc độ gia tăng dân số, chưa có định hướng mang tính bảo đảm năng lực tiếp nhận của hệ thống trường công, cũng như gắn phát triển trường công với nhu cầu thực tế của từng khu vực đô thị. Những khoảng trống trên được phản ánh rất rõ trong thực tiễn giáo dục tại Thủ đô hiện nay.
Dẫn số liệu hằng năm, Hà Nội có khoảng 140 nghìn đến 150 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trong khi chỉ tiêu vào hệ thống các trường trung học phổ thông công lập chỉ khoảng hơn 80 nghìn, đại biểu cho rằng điều này dẫn tới chỉ khoảng hơn một nửa học sinh có cơ hội vào trường công lập, có tính cạnh tranh cao, áp lực rất lớn đối với học sinh trung học cơ sở.
Từ những phân tích nêu trên, đại biểu đề nghị trong Luật Thủ đô cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung rõ hơn định hướng và các cơ chế chính sách nhằm phát triển hệ thống trường công lập. Việc bổ sung này tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn để Thủ đô chủ động hơn, cân đối phát triển hệ thống trường công lập phù hợp với quy mô dân số, tốc độ đô thị hóa và nhu cầu học tập ngày càng lớn của người dân. Qua đó, góp phần giảm áp lực tuyển sinh đầu cấp, ổn định tâm lý xã hội trong giáo dục và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục công bằng, chất lượng cho học sinh Thủ đô.
Đại biểu Tráng A Dương (Đoàn Lào Cai) đề nghị bổ sung thêm một nội dung đối với Hội đồng nhân dân thành phố quy định, đó là chính sách thu hút chuyên gia khoa học hàng đầu quốc tế trong lĩnh vực trọng điểm đến giảng dạy, nghiên cứu tại Thủ đô. Theo đại biểu, đây là yếu tố then chốt để tạo đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và vị thế của Thủ đô trong lĩnh vực quốc tế.
Sẽ nghiên cứu quy định rõ thời hạn thí điểm
Giải trình trước Quốc hội về các nội dung đại biểu quan tâm, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật Thủ đô là một bước tiến mang tính lịch sử nhằm thiết lập mô hình thể chế phát triển mới và chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo và quản trị phát triển.
Về yêu cầu giao quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, Bộ trưởng cho biết, dự thảo Luật đã cố gắng thiết kế các cơ chế kiểm tra, giám sát công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình một cách có hệ thống, đủ mạnh để tương xứng với việc phân quyền rất mạnh mẽ cho thành phố.
Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, các cơ quan chủ trì soạn thảo cũng sẽ nghiên cứu để làm rõ thêm các nội dung sau:
Một là, làm rõ các tiêu chí phân quyền, quy định rõ khi nào thì quyền được giao cho Hội đồng nhân dân, tập thể Ủy ban nhân dân, khi nào thì giao cho cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân để bảo đảm nguyên tắc là rõ trách nhiệm trong biển Báo quyết định.
Hai là, bổ sung hệ quả của trách nhiệm giải trình, quy định, sẽ bổ sung các quy định về hệ quả pháp lý cụ thể nếu kết quả giải trình không đạt yêu cầu hoặc việc thực hiện quyền hạn không hiệu quả để có căn cứ kịp thời điều chỉnh nội dung phân quyền như quy định tại Điều 4 của dự thảo Luật.
Ba là, hình thức giải trình sẽ nghiên cứu quy định cụ thể hơn về hình thức và thời điểm thực hiện phải trình trước, trong hay sau thực hiện nhiệm vụ để tăng tính chủ động cho thành phố.
Trước ý kiến của các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ giới hạn của việc ban hành các cơ chế khác luật, Bộ trưởng cho hay, tiếp thu ý kiến đại biểu, cơ quan chủ trì soạn thảo cũng dự kiến sẽ bổ sung và hoàn thiện các nội dung này theo hướng: Rà soát danh mục lĩnh vực được ban hành, cơ chế khác Luật quy định khu trú rõ hơn trong các lĩnh vực cụ thể,
tránh việc bổ sung chính sách quá rộng, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đồng thời, sẽ nghiên cứu, bổ sung quy trình bắt buộc tại Điều 8 và Điều 9 của dự thảo Luật, yêu cầu cơ quan soạn thảo phải có báo cáo riêng đánh giá sự khác biệt so với pháp luật hiện hành.
Cùng với đó, quy định cứng về giới hạn quyền nghiên cứu bổ sung nguyên tắc tại Điều 4 và Điều 9 về việc ban hành cơ chế khác và tăng cường trách nhiệm giải trình.
Đối với điểm dừng thí điểm, nghiên cứu quy định rõ thời hạn thí điểm, thí dụ 3 năm hay 5 năm tùy chính sách và trách nhiệm. Báo cáo định kỳ cho Quốc hội, Chính phủ về kết quả thực hiện, trách nhiệm đối với việc ban hành chính sách pháp luật không đúng quy trình hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng mà không thuộc trường hợp miễn trừ rủi ro khách quan…
Link nội dung: https://suckhoephapluat.nguoiduatin.vn/sua-doi-luat-thu-do-phan-quyen-manh-di-doi-voi-kiem-soat-quyen-luc-chat-che-a82788.html