"Phi vụ" chuyển nhượng khu đất vàng 39-39B Bến Vân Đồn sai quy định: Các cựu cán bộ Tập đoàn Cao su Việt Nam đã nhận 45 tỉ đồng tiền "cảm ơn" như thế nào?

Kết luận điều tra xác định khu đất 39-39B Bến Vân Đồn bị chuyển nhượng trái quy định, nhiều cựu lãnh đạo Tập đoàn Cao su Việt Nam và doanh nghiệp liên quan bị cáo buộc nhận hối lộ, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng.

45 tỉ đồng “cảm ơn”

Theo tin từ Vietnamnet, VKSND Tối cao vừa hoàn tất cáo trạng truy tố 22 bị can trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Công ty Cao su Đồng Nai, Công ty Cao su Bà Rịa và các đơn vị liên quan dự án khu đất 39–39B Bến Vân Đồn (TP.HCM).

Các bị can bị truy tố về các tội Đưa hối lộ, Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Nhận hối lộ và Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí. Trong đó, ông Trần Ngọc Thuận (nguyên Thành viên HĐTV, Tổng giám đốc Tập đoàn Cao su) bị truy tố về tội Nhận hối lộ.

Theo cáo trạng, trước khi giữ chức Tổng giám đốc, ông Thuận là Phó Tổng giám đốc, Thành viên HĐQT Tập đoàn và không tham gia việc chuyển nhượng khu đất 39–39B Bến Vân Đồn. Các quyết định, chỉ đạo liên quan dự án này được xác định do Lê Quang Thung (nguyên Quyền Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn Cao su Việt Nam) thực hiện.

Ông Trần Ngọc Thuận không biết về thỏa thuận giữa ông Lê Quang Thung với bà Lê Y Linh (Giám đốc Công ty TNHH Việt Tín) và ông Đặng Phước Dừa (Chủ tịch HĐQT Công ty CP Việt Tín) liên quan việc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam bán khu đất cho bà Linh và ông Dừa; đổi lại, doanh nghiệp chi lại cho phía Tập đoàn 3 triệu USD (tương đương hơn 53 tỷ đồng).

Sau khi đảm nhiệm chức Tổng giám đốc, khoảng giữa năm 2013, ông Trần Ngọc Thuận được cấp dưới báo cáo về những khó khăn trong việc chuyển nhượng dự án 39–39B Bến Vân Đồn. Từ đó, ông chỉ đạo Công ty Cao su Đồng Nai thuê luật sư tư vấn phương án giải quyết, đồng thời yêu cầu cấp dưới thực hiện các thủ tục nhằm thu hồi tiền bán đất, tránh nguy cơ bị thu hồi dự án.

Trước khi quyết định chủ trương giải quyết dứt điểm việc chuyển nhượng phần vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín (thực chất là chuyển nhượng khu đất 39–39B Bến Vân Đồn) của Công ty Cao su Đồng Nai và Công ty Cao su Bà Rịa, ông Lê Quang Thung và ông Đặng Phước Dừa đã đến phòng làm việc của ông Thuận tại trụ sở Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, số 236 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3 (cũ), TP.HCM.

Theo cáo trạng, tại buổi làm việc này, ông Lê Quang Thung và ông Đặng Phước Dừa cho biết bà Lê Y Linh và ông Dừa đã bỏ ra nhiều chi phí, việc chuyển nhượng đã được thống nhất từ trước nên đề nghị tiếp tục triển khai. Khi đó, ông Trần Ngọc Thuận hiểu rằng phía ông Thung đề xuất cho bà Linh và ông Dừa tiếp tục thực hiện dự án, đồng thời đã có thỏa thuận “ăn chia” từ trước.

Cáo trạng nêu, do nể ông Thung là người giới thiệu mình giữ chức Tổng giám đốc, đồng thời căn cứ kết quả tư vấn của văn phòng luật sư cho thấy việc giải quyết dự án gặp nhiều vướng mắc, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam không thể đơn phương hủy hợp đồng; nếu khởi kiện, khu đất có nguy cơ bị UBND TP thu hồi.

Trong khi đó, nếu thực hiện theo đề nghị của ông Lê Quang Thung, Tập đoàn Cao su vừa thu được tiền chuyển nhượng khu đất, ngân sách Nhà nước cũng thu được tiền sử dụng đất. Từ các lý do trên, ông Thuận đã đồng ý cho bà Linh và ông Dừa tiếp tục nhận chuyển nhượng khu đất. Sau đó, ông Thuận hai lần nhận tổng cộng 45 tỷ đồng do ông Đặng Phước Dừa đưa để “cảm ơn”.

cao-su-1770346980.png
Bị can Lê Quang Thung (bên trái trên cùng) và đồng phạm. (Ảnh: Báo Tiền Phong).

4 thùng carton tiền được đưa tới phòng làm việc

Theo cáo trạng, khoảng cuối tháng 1/2014, trước thời điểm Hội đồng thành viên (HĐTV) Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đồng ý cho tiếp tục chủ trương chuyển nhượng vốn góp, ông Trần Ngọc Thuận đã nhận 20 tỷ đồng tại phòng làm việc ở trụ sở Tập đoàn. Số tiền do ông Đặng Phước Dừa đưa, được để trong 4 thùng carton đựng rượu, mỗi thùng 5 tỷ đồng, đều là tiền mệnh giá 500.000 đồng.

Sau khi hoàn tất việc mua bán 99% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín, theo thỏa thuận trước đó với ông Lê Quang Thung về việc chi 3 triệu USD cho phía Tập đoàn Cao su, ông Dừa đã trừ đi các khoản đã đưa cho ông Thung và 20 tỷ đồng đưa cho ông Thuận. Khoảng đầu tháng 9/2014, ông Dừa tiếp tục đưa 25 tỷ đồng, đóng trong hai vali kéo màu đen, tự lái ô tô đến giao cho ông Thuận tại nhà riêng ở khu biệt thự Lan Anh, quận 2, TPHCM.

Cáo trạng cho rằng, sau khi nhận tổng cộng 45 tỷ đồng từ ông Đặng Phước Dừa, ông Trần Ngọc Thuận đã đưa cho ba cá nhân tại Tập đoàn Cao su tổng số 7,5 tỷ đồng. Cụ thể, ông Võ Sỹ Lực (khi đó là Chủ tịch HĐTV), ông Trần Thoại (thành viên HĐTV, kiêm Phó Tổng giám đốc) và ông Phạm Văn Thành (Trưởng ban Kế hoạch và Đầu tư) mỗi người nhận 2,5 tỷ đồng.

Số tiền còn lại hơn 37 tỷ đồng, theo cáo trạng, ông Thuận sử dụng vào mục đích cá nhân.

Vụ án này cũng liên quan đến bị can Nguyễn Thị Như Loan, Chủ tịch Công ty Quốc Cường Gia Lai.

Tiền Phong đưa tin, sau khi có dự án, bị can Linh, Dừa tiếp tục sang nhượng cho bị can Nguyễn Thị Như Loan, cựu Chủ tịch Công ty Quốc Cường Gia Lai.

Theo báo Người Lao Động trong vụ án xảy ra tại 39-39B Bến Vân Đồn, phường Xóm Chiếu, TP.HCM, theo kết luận điều tra trước khi sở hữu 100% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín, bị can Nguyễn Thị Như Loan đã ký thỏa thuận đầu tư, đặt cọc với ông Bùi Cao Nhật Quân (Chủ tịch HĐQT Công ty CP Bất động sản Thịnh Vượng, thuộc Tập đoàn Novaland) cam kết chuyển nhượng 100% vốn góp tại Công ty Phú Việt Tín để thu về hơn 846 tỉ đồng. Trừ các chi phí, bị can Loan hưởng lợi hơn 297 tỉ đồng.

Khung hình phạt cao nhất cho tội nhận hối lộ là gì?

Khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, người phạm tội nhận hối lộ có thể bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình nếu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất nhận hối lộ từ 1 tỷ đồng trở lên, hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên. Đây là khung hình phạt cao nhất đối với tội danh này.

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng không chỉ giới hạn ở hành vi nhận hối lộ mà còn bao gồm nhiều hành vi khác như tham ô tài sản; lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt hoặc trục lợi; lạm quyền khi thi hành công vụ; giả mạo trong công tác; đưa và môi giới hối lộ; sử dụng trái phép tài sản công; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ vì vụ lợi; bao che người vi phạm pháp luật hoặc can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Về trách nhiệm hình sự đối với hành vi đưa hối lộ, Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, người đưa hối lộ có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Trường hợp phạm tội có tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc giá trị hối lộ lớn, mức phạt tù có thể tăng từ 2 năm đến 20 năm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.

Luật cũng quy định, người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì không bị coi là có tội và được trả lại toàn bộ tài sản đã dùng để đưa hối lộ; trường hợp không bị ép buộc nhưng tự nguyện khai báo sớm cũng có thể được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự.

Lam Giang (t/h)